Thứ Năm, 30 tháng 10, 2014

Lễ Các Thánh NAM - NỮ Trên Trời


kính ngày 01 - 11

Hôm nay Hội thánh mng kính tất cả các thánh nam nữ đang được Chúa thưởng hưởng phúc trên trời.
Có 3 lý do khiến Hội thánh lập ra ngày lễ này:
- Vì các thánh quá nhiều không thể mầng mỗi vị một ngày riêng, như lời sách Khải Huyền của Thánh Gioan viết: "Muôn người thuộc mọi chi tộc và ngôn ngữ, mọi nước, mọi dân (Kh. 5,9).
- Vì không phải hết mỗi vị thánh đều được phong thánh; có những người cũng sống lành chết thánh; nhưng chưa được Hội thánh tôn phong.
- Nhất là vì có vô số các thánh không được ai biết đến, số nầy tăng thêm hằng ngày trên trời.
Thế nên cần có một ngày lễ chung để chúng ta mầng kính hết các thánh nam nữ.
Chúng ta hãy nghe thánh Bênađô viện phụ trả lời tại sao chúng ta ca ngợi và tôn vinh các thánh hôm nay:
"Chúng ta long trọng cử hành ngày lễ hôm nay để làm gì?... Thú thật trong dịp lễ nầy, tôi thấy một niềm khát vọng bừng cháy lên trong tôi. Quả vậy, niềm khát vọng đầu tiên mà việc kính nhớ các thánh khơi dậy trong chúng ta là làm sao chúng ta được vui hưởng trong cộng đoàn hạnh phúc với các ngài, và đáng được nên những người đồng hương và bạn hữu với các linh hồn thánh thiện, được hợp đoàn cùng các thánh tổ phụ, các thánh tiên tri, các thánh tông đồ, được gia nhập vào đạo binh các thánh tử đạo, với đoàn thể các thánh chủ chăn, các thánh trinh nữ, nói tắt là được hợp đoàn cùng toàn thể các thánh. Cộng đoàn Hội thánh của các vị tiên phong ấy đang chờ chúng ta mà chúng ta vẫn còn hờ hững ! Các thánh khao khát chúng ta mà chúng ta vẫn coi thường, các người công chính trông đợi chúng ta mà chúng ta vẫn làm ngơ ?...
"Khát vọng thứ hai mà việc kính nhớ các thánh làm bừng cháy lên trong tâm hồn chúng ta là mong được thấy Đức Kitô , là sự sống của chúng ta tỏ tường như các ngài đang thấy, và mong cho chính chúng ta cũng được tỏ hiện với Người trong vinh quang. Trong lúc chờ đợi, Người vẫn tỏ hiện cho chúng ta, nhưng không phải trong vinh quang đời đời của Người, mà là như Người đã chịu nạn vì chúng ta. Người tỏ ra là đầu chúng ta, nhưng nay chưa được đội triều thiên vinh quang, mà chỉ đội mũ gai để đền bù tội lỗi chúng ta. Thật là tủi nhục khi có chi thể muốn sống dễ dãi dưới một cái đầu chịu đội mũ gai như vậy..."
"Vì thế chúng ta hãy đam mê ham muốn cái vinh quang ấy một cách tuyệt vời và vững vàng. Nhưng để có quyền mong đợi vinh quang đó, cũng như được khao khát một nhân đức như thế, chúng ta phải ân cần ước mong được sự cầu bàu của các thánh, để sự gì chúng ta không đủ khả năng đạt được thì Chúa ban cho chúng ta nhờ lời chuyển cầu của các ngài"
* Quyết tâm: Hằng ngày cầu xin Chúa cho sống đạo đức thánh thiện theo gương các thánh, và nhờ các thánh cầu thay nguyện giúp, cho ngày sau được về trời hưởng phước với các ngài.
* Lời nguyện: Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, trong ngày đại lễ hôm nay, Chúa cho chúng con mng kính toàn thể các thánh trên trời. Nhờ bấy nhiêu vị thánh hằng nguyện giúp cầu thay. Chúng con tin tưởng nài xin Chúa cho chúng con được dồi dào ân sủng như lòng vẫn ước mong.

Thứ Tư, 22 tháng 10, 2014

Thánh Phaolo Tống Viết Bường


* Gương Thánh nhân 
Năm 1831, lúc giặc Đá Vách ở Quảng Nam nổi dậy chống triều đình, các quan phải đem quân đi đánh dẹp. Vua Minh Mạng sai quan thị vệ Tống Viết Bường đi giám sát trận địa. Sau khi làm xong phận sự, ông trở về trình vua: quân lính triều đình đã dẹp được giặc. Vua hỏi: 
- Khi làm xong công tác, khanh có viếng chùa Non Nước không? 
Ông trả lời: - Vì hoàng thượng không truyền lệnh, nên hạ thần không đến viếng. 
Vua bảo: - Theo thường lệ, mỗi khi dẹp được giặc, phải vào chùa lễ bái, sao khanh không đi? 
Ông mạnh dạn trình vua: - Vì hạ thần là người Công giáo, hạ thần chỉ thờ kính Thiên Chúa mà thôi. 
Chính vì lời tuyên xưng đức tin can đảm đó mà ông đã bị mất hết chức tước, và về sau bị bắt tống ngục, bị chém đầu để làm chứng cho Chúa, lãnh nhận triều thiên tử đạo vinh hiển. 
Phao-lô Tống Viết Bường sinh khoảng năm 1773, tại Phú Cam (Huế), trong một dòng tộc Công giáo đạo đức, và có nhiều người làm quan dưới thời vua Lê chúa Nguyễn. 
Lớn lên, cậu gia nhập quân đội và được chọn làm lính cận vệ nhà vua. Nhờ tài tháo vát và lòng nhiệt thành tận tụy, chẳng bao lâu cậu lính Bường được thăng lên cai đội, và được vua Minh Mạng tín cẩn trọng dụng. Vua thường giao cho ông nhiều công tác đặc biệt trong triều đình. 
Vì tín cẩn, nên năm 1831, khi quan quân triều đình đi đánh dẹp giặc Đa Vách ở Quảng Nam , vua đã cử ông đi thanh sát chiến trận. Và sau khi dẹp xong quân địch, ông không vào chùa Non Nước lễ bái mà còn xưng mình là người Công giáo, nên vua nổi cơn thịnh nộ, quát mắng dữ dội, định cho đem đi chém đầu. Nhưng nhờ một số quan chức trong triều đình có cảm tình với ông đứng ra can gián nài nỉ, nhà vua mới bớt cơn giận. Dù vậy, vua cũng truyền đánh ông 80 roi, cất hết chức tước, cho xuống làm lính thường. Thật là một hình phạt nặng nề tủi hổ, nhưng ông vẫn vui lòng chấp nhận vì trung thành với Chúa. 
Tưởng mọi việc đã yên xuôi, không ngờ hơn một năm sau, vua cho làm bảng danh sách người có đạo trong hàng ngũ lính thị vệ. Tất cả có 12 người, trong số đó có Phao-lô Tống Viết Bường, khi các quan trình bảng danh sách lên vua, năm người vì sợ chết nên bỏ đạo, còn bảy người bị tống giam vào ngục, cổ mang gông, tay chân bị xiềng xích khổ sở. 
Cứ mỗi 10 ngày, ông Bường bị đem ra tra tấn hành hạ, buộc đạp lên Thánh giá bỏ đạo. Thảm cảnh nầy kéo dài mãi suốt mấy tháng trời, nhưng ông vẫn can đảm cương quyết không chối Chúa bỏ đạo. Ông tuyên bố: 
- Tôi đã thờ Chúa từ nhỏ, làm sao tôi bỏ Chúa được. 
Mỗi lần nói như thế là ông phải lãnh 20 roi rất đau đớn, nhưng ông vẫn vui lòng chịu vì Chúa. Ông còn muốn chịu nhiều hình khổ hơn nữa, để thông phần vào sự thương khó Chúa. Thấy cực hình không lay chuyển nổi lòng tin mạnh mẽ của vị anh hùng của Chúa, các quan xoay qua dụ dỗ nài nỉ. Quan Thượng Thư Võ Xuân Cầu khuyên ông: 
- Bây giờ cứ hứa bỏ đạo đi, rồi sau nầy muốn làm gì thì làm. 
Nhưng ông trả lời: - Cám ơn quan đã có lòng thương tôi, nhưng tôi phải luôn luôn trung thành với Chúa tôi. 
Thế là các quan chịu thua lòng can đảm bền chí của ông, cho quân lính đem giam lại trong ngục, chờ lệnh của vua. 
Trong ngục, ông luôn khuyên bảo các bạn bền lòng tin cậy Chúa, nhất là xin Đức Mẹ cho đặng chịu khó vì Chúa đến cùng, bằng cách cùng nhau lần chuỗi Môi Khôi mỗi ngày. 
Ngày 23 tháng 10 năm 1833, vua Minh Mạng ra lệnh trảm quyết ông. Quân lính dẫn ông ra pháp trường Thọ Đức. Đến nơi, ông quỳ gối cầu nguyện một lúc, rồi đưa cổ cho lý hình. Sau một nhát gươm, đầu vị anh hùng đức tin đã rơi xuống đất, linh hồn bay thẳng về trời hưởng phước vinh quang… 
Ngày 27 tháng 05 năm 1900, Đức Giáo Hoàng Lê-ô 13 đã suy tôn ông lên bậc Chân Phước. Và Đức Thánh Cha Gioan Phaolô 2 tôn phong ngài lên Hiển Thánh ngày 19 tháng 06 năm 1988. 

* Quyết tâm 
Noi gương thánh Phaolô Tống Viết Bường, luôn trung thành bền đỗ tin thờ Chúa, và hằng ngày siêng năng lần chuỗi Môi Khôi để nhờ Mẹ giúp chịu khổ vì Chúa đến cùng. 

* Lời nguyện 
Lạy Cha, Cha đã ban cho Giáo hội Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng, biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương các ngài để lại, luôn can đảm làm chứng cho Cha và trung kiên mãi đến cùng. Chúng con cầu xin nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con. A-men.

Chủ Nhật, 19 tháng 10, 2014

Tân Chân Phước Giáo Hoàng Phaolo VI


Tiểu sử của Tân Chân Phước Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục 

– Văn Phòng Nghi Lễ Phủ Giáo Hoàng

Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục tục danh là Giovanni Battista Montini. Ngài chào đời tại Concesio (Brescia, nước Ý) vào ngày 26 tháng 9 năm 1897. Ngài đã theo học dòng Tên và là thành viên của Tu Hội Thánh Philip Neri tại Brescia. Ngài được thụ phong linh mục ngày 29 tháng 5 năm 1920. 

Ngài hoàn tất chương trình triết học và luật dân sự tại Rôma, và giáo luật tại Milan. Ngài được bổ nhiệm làm tùy viên tại Tòa Sứ Thần Tòa Thánh ở thủ đô Warsaw, Ba Lan vào năm 1923, và năm sau, 1924, ngài trở lại Rôma để phục vụ trong Phủ Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh. Ngài là tuyên úy cho Liên Đoàn Sinh Viên Đại Học Công Giáo Ý tại Rôma (FUCL - "Federazione Universitaria Cattolica Italiana"), và từ năm 1923 đến 1925, ngài là tuyên úy của Liên Đoàn cấp quốc gia. Trong hai thập niên 1920 và 1930, ngài đã có nhiều hoạt động về tôn giáo và văn hóa tại Ý và cả bên ngoài nữa. 

Thời gian làm việc tại Tòa Thánh của ngài đã được Đức Giáo Hoàng Piô XI và Đức Giáo Hoàng Piô XII đánh giá cao. Giữa những năm 1930 và 1937, ngài giảng dạy môn lịch sử ngoại giao Tòa Thánh tại Đại học Latêranô, cho đến ngày 13 tháng 12 năm 1937, khi Đức Giáo Hoàng Piô XI bổ nhiệm ngài làm Phụ Tá Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh. Dù phục vụ chủ yếu trong ngành ngoại giao, ngài đã thực hiện mọi nỗ lực để có thể tham gia trực tiếp vào các công tác mục vụ và chăm sóc cho các linh hồn; ngài cũng đã có nhiều hoạt động bác ái trong các vùng ngoại ô Rôma và đã tham gia vào tổ chức Saint Vincent De Paul. 

Trong Thế chiến thứ II, ngài tích cực giúp đỡ người tị nạn và người Do Thái và lãnh đạo phòng Báo Chí Tòa Thánh. Trong giai đoạn cuối chiến tranh, ngài đã giúp hình thành Hiệp hội Công Giáo của người lao động Ý (ACLI - "Associzioni Cattoliche Lavoratori Italiani"). Ngài quan tâm đặc biệt đến sự phát triển của phong trào đảng Dân chủ Kitô Giáo và cổ vũ việc hình thành các tổ chức quốc tế của giáo dân. 

Ngày 29 tháng 11 năm 1952, ngài được bổ nhiệm làm Thứ Trưởng Ngoại Giao đặc trách hành chánh sự vụ. Ngày 01 Tháng Mười Một năm 1954, ngài được bổ nhiệm làm Tổng Giám Mục Milan và được tấn phong vào ngày 12 Tháng 12 cùng năm. 

Trong giáo phận rộng lớn và phức tạp này, ngài đã sử dụng những phương pháp mới để rao giảng Tin Mừng hầu đối phó với sự gia tăng nhập cư và giúp người dân vượt qua chủ nghĩa duy vật và ý thức hệ Mác-xít, đặc biệt là ở những nơi làm việc. Ngài đã viết chín thư mục vụ cho Giáo Hội nghi lễ Ambrosiô, đã phê duyệt việc xây dựng trên 123 nhà thờ mới, và lãnh đạo một chương trình truyền giáo đô thị lớn nhất chưa từng có trong thế giới Công Giáo. Ngài đã thực hiện các chuyến đi đến Hoa Kỳ, Brazil và nhiều miền truyền giáo ở Châu Phi do tổng giáo phận Milan đảm trách. 

Ngày 15 tháng 12 năm 1958, Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII, người đã từng là một người bạn thân thiết với ngài từ năm 1925, đã tấn phong Hồng Y cho ngài. Ngài đã tích cực tham gia vào công tác chuẩn bị cho Công Đồng Chung Vatican II và sau đó tham gia vào đại Công Đồng này. 

Vào ngày 21 Tháng Sáu 1963, ngài được bầu làm giáo hoàng với Tông Hiệu là Phaolô Đệ Lục. Trong bối cảnh nhiều thách đố trong xã hội, ngài đã đưa Công Đồng gồm 3 thời kỳ đến kết thúc thành công, khuyến khích các Giáo Hội địa phương mở cửa cho thế giới hiện đại đồng thời bảo tồn truyền thống của mình, trong khi luôn luôn tìm kiếm sự hiệp thông giữa các nghị phụ của Công Đồng. 

Ngài đã thực hiện những chuyến tông du đến khắp các lục địa, bắt đầu từ vùng Thánh Địa, nơi đã xảy ra cuộc gặp lịch sử giữa ngài với Đức Thượng Phụ Chính Thống Athenagoras. Những chuyến tông du đã đưa ngài đến Ấn Độ và Liên Hiệp Quốc (1965), Fatima và Thổ Nhĩ Kỳ (1967), Columbia (1968), Geneva và Uganda (1969), và xa hơn về phía đông là Úc và Châu Đại Dương (1970). Ngài cũng thực hiện nhiều chuyến viếng thăm khắp nơi trên lãnh thổ Ý. 

Thông điệp đầu tiên của ngài, Ecclesiam Suam (1964), đề cao phương pháp "đối thoại cứu độ" trong Giáo Hội và giữa Giáo Hội với toàn thế giới. Thông điệp khác của ngài là Mysterium Fidei – “Mầu Nhiệm Đức Tin” bàn về bí tích Thánh Thể (1965); Mense Maio – “Tháng Năm" (1965) và Christi Matri - "Mẹ Chúa Kitô" (1966) khẩn cầu Đức Mẹ ban hòa bình cho thế giới; Populorum Progressio - "Sự phát triển của các dân tộc" (1967); Sacerdotalis Caelibatus - "Về đời sống độc thân linh mục" (1967); Humanae vitae "di truyền cuộc sống con người" (1968). 

Ngài đã áp dụng các văn bản của Công Đồng và thực hiện các cải tổ do Công Đồng đề xướng. Ngài đưa ra những giáo huấn về hòa bình và thiết lập ngày hòa bình thế giới. 

Ngài phải chịu nhiều đau khổ vì các cuộc khủng hoảng liên tục ảnh hưởng đến Giáo Hội trong thời gian đó, nhưng ngài đã tìm thấy niềm an ủi lớn lao trong việc thông truyền đức tin, và bảo đảm nền móng tín lý của Giáo Hội trong một khoảng thời gian đầy những biến động về ý thức hệ (“Năm đức tin”: 1967-1968 và "Kinh Tin Kính của Dân Chúa": 1968). Ngài đã cho thấy một khả năng đáng kể trong việc hòa giải ở mọi lĩnh vực. Ngài thận trọng trong các quyết định của mình, kiên trì những nguyên tắc đã được khẳng định, và hiểu biết sự yếu đuối của con người. 

Bằng cách viếng thăm thường xuyên những nơi làm việc và với tông thư Octogesima Adveniens (1971), ngài đã chứng minh cho thế giới thấy mối quan tâm thận trọng và chu đáo của Giáo Hội trước các vấn đề xã hội. Ngài thử nghiệm những cách thức mới để truyền bá đức tin (Tông huấn Evangelii Nuntiandi, 1975), và chia sẻ cách trìu mến những đau khổ của người nghèo. Ngài bảo vệ các giá trị của gia đình và của chính cuộc sống, chống lại ly dị và phá thai. Ngài phải đối diện với những căng thẳng chính trị và xã hội ở một số nước lên đến mức tạo ra những hình thức bạo lực và chủ nghĩa khủng bố; sự phản đối chân thành của Đức Phaolô Đệ Lục đối với bạo lực này được cảm nhận trên thế giới. 

Ngài có một cá tính thâm trầm, khiêm tốn và dịu dàng, tin tưởng và chân thành, và có một sự nhạy cảm nhân bản đặc biệt. Ngài là một người có tâm linh sâu sắc - được hình thành trên Kinh Thánh, và trên giáo huấn của các nghị phụ, cũng như các nhà thần học lừng danh trong Giáo Hội. Ngài đã cho thấy đức tin mạnh mẽ, niềm hy vọng vững vàng, và một cuộc sống hàng ngày đầy tình bác ái, thận trọng và đơn giản. Lời cầu nguyện của ngài, đâm rễ sâu trong lời Chúa, phụng vụ và chầu Mình Thánh, tập trung vào Chúa Kitô và được củng cố bởi một lòng sùng kính gương mẫu dành cho Đức Mẹ (Tông huấn Marialis Cultis, 1974). 

Từ khi bắt đầu sứ vụ thánh Phêrô của mình, ngài đặc biệt quan tâm đến thệ hệ trẻ, chia sẻ với họ, và với tất cả các tín hữu niềm vui đức tin (Tông huấn Gaudete in Domino, 1975) và "nền văn minh tình yêu" (Năm Thánh, 1975). 

Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục đã qua đời tại Castel Gandolfo sau một thời gian ngắn nhiễm bệnh vào ngày 6 tháng 8 năm 1978 đang khi đọc kinh Lạy Cha. 

Hai kiệt tác của ngài về tâm linh và tình yêu dành cho Giáo Hội vẫn còn là những tác phẩm thời danh, đó là cuốn Pensiero alla Morte ("Một suy niệm về cái Chết") và Testamento ("Chứng tá"). 

Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô thứ 16 đã công bố rằng Đức Phaolô Đệ Lục đã "sống một cuộc sống với nhân đức anh hùng" vào ngày 20 Tháng Mười Hai 2012.